Thơ Nguyễn Đăng Khương: Nghị trường ve vuốt

 

Khi tôi tắc ngôn ngữ trong não

 

Trong hộp sọ tôi các thực thể đơn lẻ bắt đầu cuộc di cư trắng

Một "người" tách khỏi hành động "chạy" để đứng nhìn cái bóng chính mình tan rã

Không còn sự kết hợp nào nữa thế giới một nghĩa địa những danh từ trần trụi

"Người thắng" rơi rụng thành hai mảnh một sinh vật câm lặng và một khái niệm vinh quang giả tạo

Những từ ngữ không kết hợp nằm la liệt như những xác ve sầu dưới gốc cây nhận thức

Tôi há miệng nhưng chỉ có con "quạ" Aristotle bay ra đen đặc không mang theo tiếng động

Một màu trắng cá biệt đang rỉ ra từ kẽ răng nó ở trong thân thể tôi nhưng không được nói về tôi

Cái biết-về-ngữ-pháp tôi đã phản bội nó một bóng ma trú ngụ trong linh hồn nhưng từ chối định danh

Tôi một chủ thể rỗng nơi những vị từ không còn tìm thấy đường về

Con người cá thể trong tôi đang co giật nó không được nói về bất cứ điều gì nó chỉ đơn thuần một tiếng thét bị nén chặt

Những phạm trù đổ sụp như những cột trụ bằng phấn trong cơn mưa siêu thực

Cái được nói về chủ thể giờ đây một sợi dây thừng đứt đoạn treo lơ lửng giữa hư không

Cái ở trong chủ thể lại biến thành một khối thạch tín thấm sâu vào tủy xương không có tên gọi

Cái vừa được nói về vừa ở trong chủ thể một nghịch lý đang tự ăn thịt chính mình

Và tôi con người cá biệt này không ở trong cũng không được nói về tôi một hố đen logic

Đêm nay tri giác tôi một bản dịch lỗi

Mọi nỗ lực định nghĩa đều biến thành những con rết bò ngang qua trang giấy trắng

Sự kết hợp một xa xỉ phẩm những kẻ chưa từng nếm trải cơn tắc nghẽn não thùy

"Người chạy" nhưng chân anh ta đã biến thành những ký tự Phạn văn không thể giải mã

"Con ngựa cá biệt" hí lên một hồi chuông bằng thủy tinh vỡ vụn ngay khi chạm vào không khí

Tôi thấy Aristotle đứng ở góc phòng tay cầm một con dao mổ xẻ những vần thơ không vần

Ông ấy cắt đôi sự tồn tại để tìm kiếm một bản thể luận không cần đến hơi thở

Một màu sắc không ở trong một thân thể nó lang thang như một linh hồn vô gia cư

Một tri thức không ở trong linh hồn nó cô đặc thành một viên sỏi nằm dưới đáy lưỡi tôi

Ngôn ngữ tắc nghẽn tại ngã tư sự "có" và sự "là"

Những phân loại Princeton University Press biến thành những đám mây hình thù quái dị

Tôi cố gắng khâu "người" vào "chạy" nhưng sợi chỉ logic đã bị mục nát

Thế giới không còn một hệ thống nó một đống đổ nát những thực thể đơn nhất về số lượng

Con người cá thể tôi không có ngoại lệ nó bị giam cầm trong cái "không thể tách biệt"

Sự thật một cơn sốt nơi các phạm trù nhảy múa một điệu vũ cuồng loạn

Tôi nghe thấy tiếng sột soạt những định nghĩa đang cố gắng thoát xác

Một cái biết ở trong linh hồn nhưng lại quên mất mình cái biết về điều gì

Những danh từ cá biệt trở nên nặng nề như chì kéo chìm tôi xuống đáy sự câm nín

Không có sự kết hợp tình yêu chỉ một chuỗi các tế bào không liên kết

Không có sự kết hợp nỗi đau chỉ một tín hiệu điện lẻ loi giữa đại dương neutron

Tôi muốn nói "tôi đau" nhưng "tôi" và "đau" đang đứng ở hai bờ một vực thẳm

Bản thể tôi một bản nháp bị gạch xóa bởi một vị thần say rượu

Mỗi tế bào một "cái này" đơn lẻ tuyệt vọng trong việc tìm kiếm một "cái gì đó" để thuộc về

Thời gian một thực thể ở trong chủ thể nhưng không được nói về chủ thể nào

Nó gặm nhấm sự tồn tại tôi như một con mọt gỗ nhấm nháp cuốn sách cũ Jonathan Barnes

Trong sự tắc nghẽn này tôi thấy màu trắng Aristotle không còn màu sắc

Nó một sự vắng mặt tuyệt đối một lỗ hổng trong cấu trúc vũ trụ

Những từ ngữ đơn lẻ bắt đầu nổ tung như những ngôi sao siêu tân tinh

"Người" "quạ" "chạy" "thắng" những mảnh vụn một vụ nổ ngôn từ vĩ đại

Tôi bò trên sàn nhà não bộ nhặt nhạnh những mẩu vụn logic để nhóm một ngọn lửa sưởi ấm linh hồn

Nhưng ngọn lửa ấy không tỏa nhiệt nó chỉ tỏa ra sự im lặng đậm đặc

Con người cá biệt hay con ngựa cá biệt tất cả đều những bóng ma trong rạp chiếu bóng hư vô

Tôi không còn một thực thể tôi một trạng thái trung gian sự tan rã

Ngôn ngữ chết đi để nhường chỗ cho một sự hiện hữu không cần định danh

Ở đó tôi chỉ một cái chấm nhỏ không ở trong cũng không được nói về giữa một bầu trời không có chủ thể.

 

Tôi chế ngự nỗi sợ hãi như thế nào

 

Hành lang những chiếc gương vỡ vụn nơi bản ngã soi mình thành ngàn mảnh ám ảnh

Những giới mệnh Thiên Chúa không còn nằm trên phiến đá chảy ròng ròng như nhựa sống trong huyết quản tôi

Sợ hãi một con thú làm bằng sương mù và những tiếng vọng từ quá khứ

Tôi không cầm gươm bằng sắt nhưng tay tôi nắm chặt một ý niệm về sự vĩnh cửu

Luật cũ đòi tôi phải chiếm lấy một mảnh đất đầy sỏi đá và máu

Nhưng Luật mới đẩy tôi vào cuộc viễn chinh trong đại dương tâm linh không đáy

Tôi chế ngự nỗi sợ bằng cách nhai nát những lời hứa hão huyền về sự an toàn trần thế

Chiếc bóng ma quỷ như sư tử rống chỉ một bức tranh vẽ bằng mực tàu trên mặt nước

Tôi bước qua nó như bước qua một giấc mơ chưa kịp đặt tên

Sức mạnh không phải tiếng gào thét cơ bắp sự tĩnh lặng một ngọn nến trước bão

Tôi nhìn thấy thánh Tôma đứng giữa những con số La Mã và những định nghĩa trừu tượng

Ngài bảo tôi rằng đừng sợ những kẻ chỉ giết được lớp vỏ bọc bằng thịt da này

Tôi cởi bỏ lớp da đó treo lên cành cây sự hoài nghi

Nỗi sợ chết rụng xuống như một quả khế chát

Mười điều răn những cột trụ công bình nhưng sức mạnh bầu trời bao quanh chúng

Tôi không nợ ai sự hèn nhát chính mình

Tôi nợ Thiên Chúa một linh hồn không biết cúi đầu trước hư vô

Hậu hiện đại khi tôi nhận ra nỗi sợ chỉ một cấu trúc ngôn ngữ bị sai lệch

Tôi dùng bút pháp siêu thực để vẽ lại khuôn mặt sự kinh hoàng thành một bông hoa hàm tiếu

Nhân đức không phải một pho tượng đá một dòng sông đang tự chảy ngược dòng

Tôi nghe tiếng gầm những đạo quân trong sách Đệ Nhị Luật tan biến vào thinh không

Thay vào đó tiếng đập cánh một con chim sẻ không rơi xuống đất nếu không có ý Ngài

Sự nhẫn nại một chiếc đồng hồ cát không bao giờ cạn

Tôi ngồi đếm từng hạt bụi thời gian rơi trên vai mình không hề rung chuyển

Bền chí một sợi dây đàn căng đến mức có thể cắt đứt cả bóng tối

Tôi tấu lên bản nhạc sự chịu đựng giữa những tiếng cười nhạo thế gian

Đại lượng một đôi cánh quá rộng cho những căn phòng chật hẹp lý trí

Tôi bay ra ngoài giới hạn những gì được coi "có thể"

Độ lượng khi tôi tặng cả trái tim mình cho một vực thẳm không đáy

Và nhận lại sự giàu có từ chính sự trống rỗng đó

Nỗi sợ một trò chơi lắp ghép những mảnh ký ức lỗi thời

Tôi tháo rời chúng và sắp xếp lại thành một mê cung không có lối thoát cho sự yếu đuối

Trong tiết học linh hồn tôi kẻ học trò lười biếng nhưng lại thấu thị những điều không lời

Chúa đi bên cạnh tôi không phải với tư cách một vị vua một hơi thở ấm áp

Chiến đấu thiêng liêng khi tôi tự bóp nghẹt tiếng nói sự an phận trong mình

Nước Trời đang bị cưỡng bách bởi những kẻ dám điên rồ vì niềm tin

Tôi kẻ cưỡng bách đó bằng sự nhu mì một con mãnh hổ

Sự đau buồn một bộ trang phục xa xỉ tôi mặc để dự tiệc sự sống đời đời

Mỗi vết thương một con mắt mới để tôi nhìn thấy ánh sáng chân lý

Tôi không cần quy tắc chung cho sự nguy hiểm vì tôi chính quy tắc

Mỗi khoảnh khắc một sự sáng tạo lại từ hư vô

Nỗi sợ giết người bằng sự lặp lại còn tôi sống bằng sự đột biến ân sủng

Tôi không phủ nhận nỗi sợ tôi chỉ mời nó ngồi xuống uống trà và kể về sự bất lực nó

Nó nói về cái chết tôi nói về sự phục sinh những mầm xanh dưới lớp tuyết dày

Nó nói về sự cô độc tôi nói về sự hiệp thông những vì sao

Bản tính tôi nhẫn nại nhưng linh hồn tôi một cơn bùng nổ sức mạnh

Tôi chế ngự nỗi sợ bằng cách biến mình thành một tấm gương phản chiếu sự vô biên

Khi nỗi sợ nhìn vào tôi nó chỉ thấy chính nó đang tan rã

Tôi không dùng sự phản kháng tôi dùng sự hiện diện

Sự hiện diện thuần khiết như một dấu chấm lặng giữa bản giao hưởng hỗn mang

Các giới mệnh cấm chế những hàng rào bảo vệ vườn hoa nhạy cảm tâm trí

Tôi nhảy qua hàng rào đó để chạm vào đóa hoa sự bình an tuyệt đối

Không có sự chuẩn bị nào tốt hơn một trái tim luôn sẵn sàng để bị tan vỡ

Vì chỉ khi tan vỡ ánh sáng mới có thể tràn vào.

 

Sự yếu đuối của con người

 

Bảo tàng những bản ngã dở dang nơi cát bụi khiêu vũ vũ điệu sự lãng quên

Sự yếu đuối con người không phải một vết thương tấm da thứ hai mỏng manh như cánh gián

Tôi nhìn thấy nhân đức sức mạnh đứng co quắp dưới chân cột trụ lý trí tàn tật

Nó cố gắng chịu đựng những khối đá nghịch cảnh nhưng gân cốt nó làm bằng sợi bún đời thường

Vấn nạn đặt ra như một gọng kìm rỉ sét kẹp chặt lấy cuống họng kẻ muốn thăng hoa

Các nhân đức rèn luyện chỉ những chiếc áo giáp giấy trước ngọn lửa định mệnh tàn khốc

Tôi nợ Thiên Chúa một lời thú tội về sự bất lực đồng niên trong huyết quản mình

Chúa Thánh Thần thúc giục nhưng linh hồn tôi một con lừa bướng bỉnh ưa nằm vũng bùn

Sức mạnh nhân loại chỉ đủ để ban cho tôi sự gan lì một kẻ sắp chết đuối hụt hơi

Nó không đủ để ban cho tôi sự tin tưởng thoát khỏi mọi nguy hiểm đang bủa vây

Hậu hiện đại khi tôi nhận ra sự hoàn hảo chỉ một huyền thoại bị giải cấu trúc

Tôi dùng bút pháp siêu thực vẽ lại sự yếu đuối thành một bông hoa máu nở giữa hư vô

Linh hồn được lôi kéo bởi một cơn gió thần linh nhưng đôi chân vẫn dính chặt vào đất sét trần gian

Tôi một mâu thuẫn sống động giữa khát vọng bay lên và bản năng bò sát

Sự vững vàng linh hồn chỉ một khoảnh khắc ngưng đọng cơn đại chấn tà tâm

Đôi khi điều này không thuộc về quyền hành nhân loại đạt được mục đích công việc mình

Chúng ta những kiến trúc sư xây tháp Babel bằng những viên gạch làm từ nỗi sợ hãi

Thánh Tôma đứng đó phân tích những mảnh vỡ ý chí bằng con dao mổ thần học

Ngài nói về ân huệ sức mạnh như một liều thuốc an thần cho những kẻ run rẩy trước hư không

But tôi chỉ thấy những bóng ma nghịch cảnh đang nhảy múa trên xác chết hy vọng

Linh hồn lữ thứ mệt nhoài trên con đường đất bụi không bao giờ dẫn đến quê trời

Sự yếu đuối một trò chơi lắp ghép những mảnh ghép luôn bị thất lạc

Tôi tháo rời chính mình và sắp xếp lại thành một mê cung không có lối thoát cho sự kiêu hãnh

Các giới mệnh cấm chế những hàng rào bảo vệ một khu vườn đã bị sa mạc hóa

Chúng ta đứng bên này hàng rào khao khát những trái cấm sự an toàn giả tạo

Sự đói khát về đạo ngay chỉ một cơn ảo ảnh trong sa mạc tâm hồn trống rỗng

Nó quy về hành động đức công bình nhưng đức công bình tôi một cán cân bị lệch

Thánh Augustinô viết về sự đau khổ trong việc ước muốn gặp được sự vui mừng

Nhưng tôi chỉ thấy sự đau khổ trong việc nhận ra mình không thể ước muốn đủ mạnh

Ân huệ sức mạnh thích hợp cho những kẻ đói khát nhưng tôi kẻ chán chường đã no nê sự hữu hạn

Tình yêu tôi quay đi khỏi các sự tốt trần gian nhưng lại lạc lối trong những bóng tối chính mình

Trong tư cách này nhân đức sức mạnh được kể ân huệ Chúa Thánh Thần

Bởi vì chúng ta chỉ những con rối chờ đợi một bàn tay vô hình kéo dây

Sự thúc giục Chúa Thánh Thần ban cho linh hồn bị bóp nghẹt bởi tiếng ồn dục vọng

Tôi không cầu nguyện để được mạnh mẽ tôi cầu nguyện để được chấp nhận sự hèn nhát mình

Sự yếu đuối một lỗi hệ thống trong phần mềm kiếp người không thể sửa chữa

Tôi cài đặt lại mình bằng mật mã sự phó thác và lòng trắc ẩn đối với chính mình

Mười điều răn những cột trụ công bình nhưng sự yếu đuối bầu trời bao quanh chúng

Nó không nợ ai sự can đảm chính mình nó nợ Thiên Chúa một sự vâng lời trong tuyệt vọng

Sự to tát nhân đức đại độ một lời mời gọi vượt qua chính mình nhưng tôi chỉ một kẻ lùn tà thuật

Đại lượng một đôi cánh quá rộng cho những căn phòng chật hẹp lý trí tàn tật

Sự nhẫn nại liên hệ với sự chịu đựng các sự xấu nhưng tôi chỉ chịu đựng vì tôi không thể phản kháng

Sự kiên chỉ có đối tượng thời gian lâu dài cần thiết để chờ đợi nhưng tôi chỉ chờ đợi vì tôi không biết đi đâu

Vâng lời một tiếng gọi vang lên từ thẳm sâu sự hiện hữu nhưng tôi chỉ nghe thấy tiếng vọng nỗi sợ

Thế giới hậu hiện đại đầy rẫy những mảnh vỡ và tôi tìm thấy sự toàn vẹn trong việc chấp nhận mình một mảnh vỡ

Dưới chân tôi đất hứa không phải bằng cỏ cây bằng sự tự do kẻ không còn gì để mất

Tôi bước đi trên những mảnh sành sự thử thách bằng đôi chân trần sự bất lực

Máu tôi chảy ra hòa cùng rượu nho trong chén thánh sự nhẫn nhục

Nhưng tôi chỉ nhẫn nhục vì tôi không thể chiến đấu

Sự yếu đuối một bài thơ văn xuôi không có dấu kết thúc

Sự khoái lạc thuộc về yếu tính hạnh phúc như Triết gia chủ trương

Nhưng tôi chỉ tìm thấy hạnh phúc trong việc từ bỏ sự theo đuổi hạnh phúc

Các quả tuôn chảy ra từ các mối phúc nhưng tôi chỉ gặt hái những trái đắng sự thất bại

Dưới chân tôi vực thẳm sự hữu hạn và tôi nhảy xuống với một nụ cười siêu thực

Tôi một mảnh vỡ Thiên Chúa bị lạc lối trong cõi người ta

Sự yếu đuối con người một kỳ quan sự sáng tạo nơi Thiên Chúa bày tỏ quyền năng Ngài qua sự bất lực chúng ta

Tôi một kẻ hành hương không có bản đồ chỉ có một đức tin mù lòa vào tình yêu vô điều kiện

Tôi một bài thơ văn xuôi không có dấu kết thúc một câu chuyện không có hậu một bài hát không có giai điệu

Tôi đứng đó giữa quảng trường linh hồn rực rỡ ánh dương sự yếu đuối

Không còn sợ hãi không còn dấu chấm cuối cùng chỉ còn một sự lên đường mãi mãi

Tôi bước vào hành lang những chiếc gương vỡ vụn nơi bản ngã soi mình thành ngàn mảnh ám ảnh

Những giới mệnh Thiên Chúa không còn nằm trên phiến đá chảy ròng ròng như nhựa sống trong huyết quản tôi

Sợ hãi một con thú làm bằng sương mù và những tiếng vọng từ quá khứ

Tôi không cầm gươm bằng sắt nhưng tay tôi nắm chặt một ý niệm về sự vĩnh cửu

Luật cũ đòi tôi phải chiếm lấy một mảnh đất đầy sỏi đá và máu

Nhưng Luật mới đẩy tôi vào cuộc viễn chinh trong đại dương tâm linh không đáy

Tôi chế ngự nỗi sợ bằng cách nhai nát những lời hứa hão huyền về sự an toàn trần thế

Chiếc bóng ma quỷ như sư tử rống chỉ một bức tranh vẽ bằng mực tàu trên mặt nước

Tôi bước qua nó như bước qua một giấc mơ chưa kịp đặt tên

Sức mạnh không phải tiếng gào thét cơ bắp sự tĩnh lặng một ngọn nến trước bão

Tôi nhìn thấy thánh Tôma đứng giữa những con số La Mã và những định nghĩa trừu tượng

Ngài bảo tôi rằng đừng sợ những kẻ chỉ giết được lớp vỏ bọc bằng thịt da này

Tôi cởi bỏ lớp da đó treo lên cành cây sự hoài nghi

Nỗi sợ chết rụng xuống như một quả khế chát

Mười điều răn những cột trụ công bình nhưng sức mạnh bầu trời bao quanh chúng

Tôi không nợ ai sự hèn nhát chính mình

Tôi nợ Thiên Chúa một linh hồn không biết cúi đầu trước hư vô

Hậu hiện đại khi tôi nhận ra nỗi sợ chỉ một cấu trúc ngôn ngữ bị sai lệch

Tôi dùng bút pháp siêu thực để vẽ lại khuôn mặt sự kinh hoàng thành một bông hoa hàm tiếu

Nhân đức không phải một pho tượng đá một dòng sông đang tự chảy ngược dòng

Tôi nghe tiếng gầm những đạo quân trong sách Đệ Nhị Luật tan biến vào thinh không

Thay vào đó tiếng đập cánh một con chim sẻ không rơi xuống đất nếu không có ý Ngài

Sự nhẫn nại một chiếc đồng hồ cát không bao giờ cạn

Tôi ngồi đếm từng hạt bụi thời gian rơi trên vai mình không hề rung chuyển

Bền chí một sợi dây đàn căng đến mức có thể cắt đứt cả bóng tối

Tôi tấu lên bản nhạc sự chịu đựng giữa những tiếng cười nhạo thế gian

Đại lượng một đôi cánh quá rộng cho những căn phòng chật hẹp lý trí

Tôi bay ra ngoài giới hạn những gì được coi "có thể"

Độ lượng khi tôi tặng cả trái tim mình cho một vực thẳm không đáy

Và nhận lại sự giàu có từ chính sự trống rỗng đó

Nỗi sợ một trò chơi lắp ghép những mảnh ký ức lỗi thời

Tôi tháo rời chúng và sắp xếp lại thành một mê cung không có lối thoát cho sự yếu đuối

Trong tiết học linh hồn tôi kẻ học trò lười biếng nhưng lại thấu thị những điều không lời

Chúa đi bên cạnh tôi không phải với tư cách một vị vua một hơi thở ấm áp

Chiến đấu thiêng liêng khi tôi tự bóp nghẹt tiếng nói sự an phận trong mình

Nước Trời đang bị cưỡng bách bởi những kẻ dám điên rồ vì niềm tin

Tôi kẻ cưỡng bách đó bằng sự nhu mì một con mãnh hổ

Sự đau buồn một bộ trang phục xa xỉ tôi mặc để dự tiệc sự sống đời đời

Mỗi vết thương một con mắt mới để tôi nhìn thấy ánh sáng chân lý

Tôi không cần quy tắc chung cho sự nguy hiểm vì tôi chính quy tắc

Mỗi khoảnh khắc một sự sáng tạo lại từ hư vô

Nỗi sợ giết người bằng sự lặp lại còn tôi sống bằng sự đột biến ân sủng

Tôi không phủ nhận nỗi sợ tôi chỉ mời nó ngồi xuống uống trà và kể về sự bất lực nó

Nó nói về cái chết tôi nói về sự phục sinh những mầm xanh dưới lớp tuyết dày

Nó nói về sự cô độc tôi nói về sự hiệp thông những vì sao

Bản tính tôi nhẫn nại nhưng linh hồn tôi một cơn bùng nổ sức mạnh

Tôi chế ngự nỗi sợ bằng cách biến mình thành một tấm gương phản chiếu sự vô biên

Khi nỗi sợ nhìn vào tôi nó chỉ thấy chính nó đang tan rã

Tôi không dùng sự phản kháng tôi dùng sự hiện diện

Sự hiện diện thuần khiết như một dấu chấm lặng giữa bản giao hưởng hỗn mang

Các giới mệnh cấm chế những hàng rào bảo vệ vườn hoa nhạy cảm tâm trí

Tôi nhảy qua hàng rào đó để chạm vào đóa hoa sự bình an tuyệt đối

Không có sự chuẩn bị nào tốt hơn một trái tim luôn sẵn sàng để bị tan vỡ

Vì chỉ khi tan vỡ ánh sáng mới có thể tràn vào.

 

Nghị trường ve vuốt

 

Bước vào nghị trường những cái bóng không xương nơi ngôn từ được gọt giũa thành những lưỡi dao bọc nhung

Sự hòa nhã ở đây không phải một nhân đức một loại mỹ phẩm đắt tiền trét lên khuôn mặt hư vô

Tôi nhìn thấy những bàn tay trong suốt đang vuốt ve những luồng không khí tẩm kịch độc

Nghị trường một cái lồng kính khổng lồ nơi những con thú nhồi bông học cách mỉm cười bằng răng giả

Tính hòa nhã thánh Tôma đã bị giải cấu trúc thành một chuỗi những mã lệnh nịnh bợ

Mọi người theo bản tính bạn hữu nhưng ở đây người ta đồng phạm một sự im lặng lấp lánh

Tôi dùng bút pháp siêu thực vẽ lại những lời khen ngợi thành những sợi tơ nhện chăng kín trần nhà

Mỗi tiếng "vâng" một nhát búa bọc nỉ đóng vào quan tài sự thật

Sự ve vuốt ở đây mang hình hài những con rắn bằng thủy tinh bò trên mặt bàn nghị sự

Chúng không cắn nhưng chúng để lại những vệt chất lỏng làm tê liệt mọi sự phản kháng

Hậu hiện đại khi chúng ta không còn biết đâu lòng mến chân thật đâu kỹ nghệ ngoại giao

Tôi nợ thế gian một sự gắt gỏng lương thiện nhưng tôi lại trả bằng một nụ cười rỗng tuếch

Nhân đức bằng hữu bị đóng đinh trên những cột trụ sự tiện nghi giả tạo

Chúng ta sống động và cư xử với nhau như những bóng ma trong một buổi dạ tiệc câm

Mỗi lời nói một viên kẹo bọc đường chứa đựng sự rỗng tuếch những linh hồn lữ thứ lạc đường

Thánh nhân bảo rằng không ai có thể ở suốt ngày với một con người buồn phiền

Nên chúng ta sản xuất niềm vui công nghiệp trong những dây chuyền phát biểu bóng bẩy

Sự nịnh bợ một tật xấu đối lập nhưng ở nghị trường này nó ngôn ngữ duy nhất được cấp phép

Tôi thấy những cái lưỡi biến thành những dải lụa dài quấn chặt lấy những chiếc ghế quyền lực

Sự kiện tụng bị xua đuổi không phải vì hòa bình người ta sợ ánh sáng sự tranh biện

Nghị trường ve vuốt một mê cung nơi những lối đi được lát bằng sự đồng thuận mù lòa

Tôi đi tìm một gương mặt giận dữ thánh đức nhưng chỉ gặp những mặt nạ thạch cao trắng bệch

Mọi tương quan đời sống nhân loại bị đông cứng trong một chất keo ngọt lịm

Sự tốt lôi kéo tình yêu mọi người nhưng ở đây sự tốt đã bị đánh tráo bởi sự phù hợp

Tôi nghe tiếng cười những kẻ nịnh hót vang lên như tiếng kính vỡ trong một nhà nguyện hoang

Họ lãnh nhận tất cả mọi sự một cách hợp lý nhưng cái lý họ làm bằng sương mù

Sự giả vờ đối với nhân đức một nghệ thuật trình diễn trong rạp hát những người điên

Tôi vẽ một biểu đồ về sự hòa nhã nơi trục tung sự hèn nhát và trục hoành sự tư lợi

Những dấu hiệu tình bằng hữu được ban phát như những tờ truyền đơn vô giá trị

Người ta không yêu mến nhau người ta chỉ đang sử dụng nhau như những quân cờ bọc lụa

Món nợ danh dự nhân đức công bình bị biến thành một bản hợp đồng mua bán sự tử tế

Tôi không đưa ra cho những người lạ các dấu hiệu tình bằng hữu hoàn hảo

Nhưng tôi lại đưa cho họ những liều thuốc mê sự đồng ý giả tạo

Huấn ca nói lòng kẻ khôn ở nơi đám tang nhưng ở đây người ta mở tiệc trên những xác chết chân lý

Sự vui thú dâm dật những lời tâng bốc làm mờ mắt những kẻ cầm cân nẩy mực

Tôi nhìn thấy một con gái không được canh chừng thân chủng trong những ẩn dụ sự sa đọa

Người ta không còn lộ mặt vui tươi để khích lệ người tốt để vỗ về những kẻ chìm đắm trong tội

Nghị trường một chiếc bụng đại dương chứa đầy những sinh vật không có xương sống

Chúng vuốt ve nhau bằng những xúc tu làm từ những điều khoản luật pháp mơ hồ

Tôi nợ mình một sự cô độc tôi bị lôi kéo vào đám đông sự hòa nhã giả hình

Cái trung dung người khôn ngoan bị bóp méo thành sự thỏa hiệp kẻ yếu lòng

Chúng ta không còn sợ làm buồn lòng bạn hữu vì chúng ta không còn bạn hữu

Chúng ta chỉ có những đối tác trong trò chơi ve vuốt những cái tôi vĩ cuồng

Mỗi nghị quyết một cái vuốt ve dài vào cái lưng còng lịch sử

Sự nhã nhặn biến thành một cái vòng cổ xích chúng ta vào những định kiến chung

Tôi dùng bút pháp tượng trưng để gọi tên sự ve vuốt này "Cái Chết Ngọt"

Máu sự thật chảy ra không màu không mùi giữa những tiếng vỗ tay rầm rộ

Chúng ta không còn hoán cải bằng sự ưu phiền vì sự ưu phiền đã bị cấm đoán bởi những nụ cười

Sự tao bạo tội lỗi được nâng đỡ bởi những gương mặt vui tươi tột độ

Xã hội không thể tồn tại thiếu chân lý nhưng ở nghị trường này xã hội tồn tại bằng sự diễn dịch

Niềm vui thú đời sống công cộng bị biến thành một liều ma túy liều cao

Người ta không thể sống không có sự hứng thú nên người ta giả vờ hứng thú với mọi điều vô nghĩa

Triết gia nói không ai có thể ở với một người không hứng thú

Vậy nên chúng ta trở thành những gã hề hăng hái nhất trong rạp xiếc chính mình

Món nợ tự nhiên về tính lương thiện đã bị quỵt nợ bởi những con nợ chuyên nghiệp

Sự tương tự tình bằng hữu chỉ cốt tại điều người ta hành động đối với mọi người

Một sự cào bằng ghê gớm nơi kim cương và bùn đất được vuốt ve như nhau

Nghị trường một cái máy xay thịt nơi những cá tính bị nghiền nát thành một khối bột mịn sự đồng lòng

Sự hòa nhã cái dầu bôi trơn cho cỗ máy sự áp bức êm ái

Tôi thấy thánh Augustinô khóc trong một góc tối tư duy hậu hiện đại

Ngài khóc vì tình yêu đã bị tách rời khỏi sự thật để trở thành một kỹ năng xã hội

Sự ve vuốt một loại virus tấn công vào hệ miễn dịch sự công chính

Chúng ta không còn đói khát sự công chính vì chúng ta đã no nê sự vuốt ve

Mỗi cái chạm tay giữa các đại biểu một sự truyền dẫn sự rỗng tuếch

Tôi vẽ một cái cây nhân đức nhưng rễ nó cắm vào hư vô và quả nó những túi khí

Nghị trường một vùng biển lặng nơi những con tàu không bao giờ cập bến vì không có gió tranh luận

Sự vui thú lương thiện bị thay thế bằng sự khoái cảm quyền lực được ẩn giấu

Chúng ta sum vầy với nhau mỗi người một hòn đảo bị bao quanh bởi những lời nịnh hót

Dịu ngọt dường bao thực ra vị đắng sự phản bội chính mình

Tôi không hối tiếc vì đã làm anh em ưu phiền tôi hối tiếc vì đã làm họ vui bằng sự dối trá

Nghị trường ve vuốt một bài thơ không có nhịp điệu chỉ có những tiếng thở dài bị che lấp

Sự hòa nhã một chiếc mặt nạ sắt nung nóng áp vào khuôn mặt sự tự do

Chúng ta bị bắt buộc bởi món nợ danh dự phải hành động như những cái xác biết cười

Tôi nhìn thấy sự nịnh bợ mang vương miện nhân đức công bình

Nó ngồi trên ngai vàng những lời hoa mỹ và phán xét những kẻ dám nói thật

Sự kiện tụng bị đóng đinh như một tên tội phạm đe dọa sự ổn định nghĩa địa

Mỗi cái vuốt ve một lần tước đoạt đi sự sắc bén linh hồn

Chúng ta trở nên tròn trịa và trơn tuột như những viên bi trong lòng bàn tay định mệnh

Không có ma sát không có sự va chạm chỉ có sự lăn tròn vô định trong nghị trường

Sự hòa nhã một chiếc lồng chim dát vàng nơi tiếng hót bị định hướng bởi những bàn tay ve vuốt

Tôi muốn bóp nát cái nghị trường này bằng một thực tại xù xì và thô tháp

Để máu sự thật lại được đỏ tươi trên những trang giấy trắng lương tâm

Nhưng bàn tay tôi cũng đang bị ve vuốt bởi những luồng tư duy thỏa hiệp

Tôi một phần cái nghị trường này một kẻ nịnh hót chính nỗi sợ mình

Sự yếu đuối con người được che đậy bằng những nghi thức ngoại giao tinh xảo

Chúng ta ve vuốt nhau để quên đi chúng ta đang cùng nhau chìm xuống vực thẳm

Sự công bình bị biến thành một trò chơi phân chia những cái vuốt ve có hệ thống

Ai vuốt ve giỏi hơn kẻ đó sẽ có quyền lực cao hơn trong hệ sinh thái sự giả tạo

Tôi dùng bút pháp siêu thực để biến những chiếc ghế nghị trường thành những cái miệng lớn

Chúng nuốt chửng mọi sự phản kháng và nhả ra những bản đồng ca ngọt lịm

Sự vui thú đời sống công cộng một sự biện minh hợp lý cho sự hèn nhát tập thể

Chúng ta sống động đối với người khác thực chất chúng ta đã chết đối với chính mình

Nghị trường ve vuốt nơi nhân đức bị hãm hiếp bởi sự tử tế bề ngoài

Mỗi cái bắt tay một sự chuyển giao những bóng tối không tên

Tôi đi tìm một nụ cười thật sự giữa rừng mặt nạ thạch cao nứt nẻ

Sự hòa nhã thánh Tôma giờ đây chỉ còn một cái xác không hồn trong bảo tàng ý tưởng

Người ta trưng bày nó để biện minh cho sự thiếu hụt lòng dũng cảm

Nghị trường một căn phòng không có cửa sổ nơi âm thanh duy nhất tiếng ve vuốt vải lụa

Sự nịnh bợ đã chiến thắng vì nó mang lại sự an tâm tạm thời cho những kẻ yếu đuối

Chúng ta sợ sự thật như sợ một cơn bão sẽ làm sụp đổ tòa lâu đài bằng cát mình

Sự ve vuốt những hạt cát bồi đắp thêm cho tòa lâu đài ấy mỗi ngày

Để rồi một ngày chúng ta nhận ra mình đã bị chôn vùi dưới chính sự hòa nhã mình

Tôi nợ Thiên Chúa một linh hồn biết nổi giận trước sự bất công mang nhãn hiệu hòa bình

Nghị trường này cần một cơn đại chấn sự thành thật để phá vỡ những cái bóng

Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục vuốt ve nhau trong ánh sáng mờ ảo sự thỏa hiệp

Mỗi lời phát biểu một cái lưỡi mềm mại liếm vào vết thương sự hèn hạ

Để nó không còn đau đớn để nó trở thành một phần cơ thể chúng ta

Sự hòa nhã một loại thuốc tê làm chúng ta quên đi món nợ đối với chân lý

Chúng ta những con nợ hạnh phúc trong một ngân hàng sự giả dối

Nghị trường ve vuốt một bài văn xuôi dài 150 câu không có lối thoát

Tôi lạc lối trong những hàng chữ lấp lánh và những ẩn dụ tẩm đường

Sự siêu thực cách duy nhất để tôi không bị nghẹt thở trong cái nghị trường này

Tôi biến mình thành một đám mây đen để không ai có thể vuốt ve được tôi

Nhưng đám mây ấy cũng đang dần tan rã trong ánh nắng nhân tạo sự hòa hảo

Chúng ta ve vuốt lịch sử vuốt ve định mệnh và vuốt ve cả cái chết

Để cái chết cũng trở nên nhã nhặn và thơm tho như một buổi tiệc trà

Nghị trường ve vuốt không bao giờ kết thúc vì con người luôn sợ sự trần trụi tâm hồn

Chúng ta cần những chiếc áo khoác sự hòa nhã để che đậy sự trống rỗng bên trong

Tôi đứng giữa nghị trường và hét lên một tiếng câm lặng

Tiếng hét ấy bị những cái vuốt ve không gian nuốt chửng ngay lập tức

Chỉ còn lại một sự im lặng dịu ngọt và đáng sợ những linh hồn đã đầu hàng

Nghị trường vẫn tiếp tục ve vuốt những bóng ma chính nó trong gương

Sự hòa nhã một giới mệnh đã bị lạm dụng để giết chết sự sống linh hồn

Tôi một kẻ hành hương trong nghị trường ve vuốt tìm kiếm một dấu chấm không có đường

Nhưng mọi con đường đều tròn trịa và dẫn về sự vuốt ve ban đầu

Không có sự hoán cải không có sự cứu rỗi chỉ có sự lặp lại vô tận những cái vuốt ve

Dưới chân tôi thảm nhung và dưới thảm nhung vực thẳm sự lãng quên

Tôi bước đi và cảm nhận sự mềm mại sự phản bội đang mơn man bàn chân mình

Nghị trường ve vuốt một tác phẩm nghệ thuật sự suy đồi rực rỡ

Nơi chúng ta cùng nhau múa vũ điệu những con búp bê bị hư dây cót

Và Thiên Chúa nhìn xuống từ những tầng mây siêu thực với một sự im lặng đau đớn

Vì Ngài đã ban cho chúng ta sự tự do nhưng chúng ta lại chọn sự vuốt ve xiềng xích

Nghị trường này sẽ tan biến như một giấc mơ khi ánh sáng sự thật cuối cùng bùng nổ

Nhưng cho đến lúc đó chúng ta vẫn sẽ tiếp tục vuốt ve nhau trong bóng tối lấp lánh

Sự hòa nhã một nhân đức đã chết và tôi kẻ viết điếu văn bằng những ẩn dụ siêu thực

Không còn dấu chấm cuối cùng chỉ còn một sự ve vuốt mãi mãi tan vào hư không…

 


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này